Hiển thị các bài đăng có nhãn Toán học và đời sống. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Toán học và đời sống. Hiển thị tất cả bài đăng

Tìm bán kính khi biết độ dài cung và dây cung

Thứ Ba, 31 tháng 5, 2022

Bài toán

Tìm bán kính của đường tròn và chiều cao của hình viên phân có độ dài cung là $l$ và độ dài dây cung là $w$.

Giải

1. Tìm mối liên hệ giữa $w, l$ với $R$

Giả sử trên đường tròn tâm $O$ có $OA=OB=R$, dây cung $AB=l$, $\widehat{AOB}=\alpha$, $\widehat{ABO}=\beta$, ta có: 

$$\alpha = \frac{l}{R}; \quad \quad \beta = \frac{\pi - \alpha}{2}=\frac{\pi}{2}-\frac{\alpha}{2}$$

Áp dụng định lý sin trong tam giác $AOB$ ta có: 

$$\frac{AB}{\sin \widehat{AOB}} = \frac{OA}{\sin \widehat{ABO}}$$

hay $$\frac{w}{\sin \alpha} = \frac{R}{\sin \beta}= \frac{R}{\cos \frac{\alpha}{2}} $$

Suy ra: 

$$\frac{w}{R} = \frac{\sin \alpha}{\cos \frac{\alpha}{2}} = 2\sin \frac{\alpha}{2}=2\sin \frac{l}{2R}$$

Vậy: 

$$\frac{w}{2R}=\sin \frac{l}{2R} $$

Nghiệm của phương trình trên đây không thể biểu diễn dưới dạng các hàm số sơ cấp.

2.Giải gần đúng

Đặt $x=\frac{l}{2R} \in \left ( 0; \frac{\pi}{2} \right)$ ta thu được phương trình

$$f(x)=\sin x - \frac{w}{l}x  = 0$$

Ta giải phương trình này bằng phương pháp Newton. Ta có:

$$f'(x)=\cos x - \frac{w}{l}; \quad f''(x)=-\sin x$$

Ta lập dãy

$$\begin{cases}x_0 = \frac{\pi}{2} \\ x_{n} = x_{n-1}-\frac{f(x_{n-1})}{f'(x_{n-1})}=x_{n-1}-\frac{\sin(x_{n-1})-\frac{w}{l}x_{n-1}}{\cos(x_{n-1})-\frac{w}{l}}, \quad \forall n \geq 1\end{cases}$$

Xem trong file Excel đính kèm, thường đến bước 6 là ra kết quả.

3. Tìm mối liên hệ giữa $h$ và $w, R$

Gọi $E$ trung điểm AB, $D$ là điểm chính giữa cung $AB$. Khi đó $DE=h$. 

Ta có

$$\begin{align*}OE^2 & = OA^2-EA^2\\(R-h)^2 &= R^2-\frac{w^2}{4}\\h &=R-\sqrt{R^2-\frac{w^2}{4}}\\ \end{align*}$$

Toán học trong tìm kiếm web

Thứ Hai, 25 tháng 4, 2016 0 comments

Câu lạc bộ toán học Explorer (Hoa ) đã  một modun về Toán học trong tìm kiếm WebCông trình này được tài trợ bởiQuỹ Khoa học Quốc gia Hoa Đây  một tài liệu hữu ích cho những người nghiên cứu về  thuyết đồ thị  Khoa học máy tính.


Với hi vọng phổ biến kiến thức toán học và khoa học máy tính, tôi đã cố gắng dịch tài liệu này sang tiếng Việt. Trong quá trình dịch, tôi đã trung thành với bản gốc, cả ví dụ cũng như các hành văn của tác giả. Tôi xin chân thành cảm ơn bạn Trần Trung Kiên (TP Hồ Chí Minh) đã đọc và cho tôi nhiều góp ý giá trị.




Vì bản thân không phải là người trong ngành nên quá trình dịch của tôi chắc chắn có nhiều sai sót. Rất mong được bạn đọc góp ý.

Mọi góp ý xin liên hệ qua email: ngocthe.pk@gmail.com

Xin chân thành cảm ơn!
Hoàng Ngọc Thế

Lượng giác trên quả địa cầu

Chủ Nhật, 24 tháng 1, 2016 0 comments

Bài toán 1
Xem Trái Đất như một khối cầu tâm $O$.
Điểm $S$ có tọa độ $11^o$ vĩ Bắc, $106^o30'$ kinh Đông.
Điểm $P$ có tọa độ $49^o$ vĩ Bắc, $2^o30'$ kinh Đông.
Tính số đo góc $\widehat{POS}$ ?

Giải
Phương trình tham số của mặt cầu Trái Đất là:
$$\begin{cases}x=R\cos \varphi \cos \lambda \\ y = R\cos \varphi \sin \lambda \\ z = R \sin \varphi \end{cases}$$
Trong đó $\varphi $ là vĩ độ (mang dấu dương khi điểm đang xét ở Bán cầu Bắc, mang dấu âm khi ở Bán cầu Nam), $\lambda$ là kinh độ (mang dấu dương khi ở Bán cầu Đông, dấu âm khi ở Bán cầu Tây)
Ta có tọa độ của $S,P$ là
$$S(R\cos \varphi_S \cos \lambda_S ; R\cos \varphi_S \sin \lambda_S ; R \sin \varphi_S), \quad P(R\cos \varphi_P \cos \lambda_P ; R\cos \varphi_P \sin \lambda_P ; R \sin \varphi_P)$$

$$\overrightarrow{OP}.\overrightarrow{OS}=R^2 \left [ \cos \varphi_P \cos \varphi_S \cos (\lambda_P - \lambda_S) +\sin \varphi_P\sin \varphi_S \right ]$$

\begin{equation} \label{eq:1} \boxed{\cos \left ( \overrightarrow{OP}, \overrightarrow{OS} \right ) = \frac{\overrightarrow{OP}. \overrightarrow{OS}}{OP.OS} = \cos \varphi_P \cos \varphi_S \cos (\lambda_P - \lambda_S) +\sin \varphi_P\sin \varphi_S} \end{equation}

Theo bài, $\varphi_S = 11^o, \lambda_S = 106,5^o, \varphi_P=49^o, \lambda_P=2,5^o$, ta có:
$$\cos \left ( \overrightarrow{OP}, \overrightarrow{OS} \right ) = \cos 49^o \cos 11^o \cos 104^o + \sin 11^o \sin 49^o \approx -0,01179$$
Vậy $\widehat{POS} \approx 90^o40’32’’$

Bài toán 2
Tính diện tích phần bề mặt Trái Đất giới hạn bởi các vĩ tuyến $11^o$ Bắc, $49^o$ Bắc và các kinh tuyến $2^o30'$ Đông, $106^o30'$ Đông ?

Giải
Trước hết ta tìm công thức tính diện tích phần mặt cầu giới hạn bởi hai đường vĩ tuyến. (Người ta gọi là hình đớt cầu)

Dễ thấy hình đớt cầu là mặt tròn xoay có được nhờ quay hình phẳng giới hạn bởi các đường sau xung quanh trục $Ox$:
$$y=\sqrt{R^2-x^2} \quad \text{(nửa đường tròn tâm O phía trên trục hoành)}, \quad x = a, x = b, \quad (0<a<b \leq R)$$
Áp dụng công thức:
$$S = 2\pi\int_{a}^{b}y\sqrt{1+(y')^2}dx$$
Ta có:
\begin{equation} \label{eq:2} S_{(R,a,b)}=2\pi\int_{a}^{b}\sqrt{R^2-x^2}\sqrt{1+\frac{x^2}{R^2-x^2}}dx = 2\pi\int_{a}^{b}Rdx = 2\pi R (b-a) \end{equation}

Quay lại với Trái đất, Diện tích hình đớt cầu giới hạn bởi hai đường vĩ tuyến $\varphi_1$ và $\varphi_2, (\varphi_1 < \varphi_2)$. Ta lấy $a=R\sin \varphi_1, b = R\sin \varphi_2$. Ta được
$$S_{(R,\sin \varphi_1,\sin \varphi_2)}=2\pi R^2 (\sin \varphi_2- \sin \varphi_1)$$

Gọi $S_{(\varphi_1; \varphi_2; \lambda_1; \lambda_2)}$ là diện tích cần tìm. Dễ thấy đó là diện tích phần phần đớt cầu giới hạn bởi hai kinh tuyến $\lambda_1$ và $\lambda_2$. Ta có:
\begin{equation} \label{eq:3} \boxed{ S_{(\varphi_1; \varphi_2; \lambda_1; \lambda_2)}=\frac{|\lambda_2-\lambda_1|}{360} \times 2\pi R^2 (\sin \varphi_2- \sin \varphi_1) } \end{equation}

Lấy $R=6370 km, \varphi_1 = 11^o, \varphi_2=49^o, \lambda_1 = 2^o30', \lambda_2 = 106^o30'$, ta có $S\approx 41 \ 532 \ 886,63 km^2$


Bài toán 3
Điểm $A$ có tọa độ $\varphi _A=11^o$ ; $\lambda _A=2^o30'$ ($11^o$ vĩ Bắc, $2^o30'$ kinh Đông)
Điểm $B$ có tọa độ $\varphi _B=49^o$ ; $\lambda _B=106^o30'$ ($49^o$ vĩ Bắc, $106^o30'$ kinh Đông)
Giả sử trên bề mặt Trái Đất, người ta nối 2 thành phố $A$ và $B$ bằng 1 đường ngắn nhất (gọi là đường $(L)$)
Tính diện tích bề mặt Trái Đất giới hạn bởi đường $(L)$, các đường kinh tuyến đi qua $A$ và $B$ và đường xích đạo ?
Giải

1) Diện tích cần tìm là
$$S_{ABCD}=S_{CPD} - S_{PAB}$$
Trong đó $P$ là điểm cực Bắc. $C,D$ lần lượt là giao điểm của kinh tuyến $\lambda_B, \lambda_A$ với đường xích đạo.

2) Để tính $S_{PAB}$. Ta cần đi tìm công thức tính diện tích tam giác trên mặt cầu.
Định nghĩa:
Tam giác cầu $ABC$ là Tam giác nằm trên trên mặt cầu, các đường cong đi qua AB, BC, CA là các đường tròn lớn của mặt cầu.

Kí hiệu $A$ là góc giữa hai mặt phẳng $(AOB)$ và $(AOC)$.
$A$ đo bằng radian.

Khi đó gọi $S_A$ là diện tích phần mặt cầu giới hạn bởi hai mặt phẳng $(OAB)$ và  $(OAC)$ (phần tô vàng)

Gọi $S$ là diện tích mặt cầu tâm $O$ bán kính $R$,
$S=4\pi R^2$.
Ta có:
$$S_A = 2 \times \frac{S}{2 \pi}\times A = 4A\times R^2$$

3) Ta chứng minh định lý Girard:
Nếu $ABC$ là một tam giác cầu thì Diện tích tam giác $ABC$ được tính bằng công thức:
\begin{equation} \label{eq:4} \boxed{S_{ABC} = R^2(A+B+C-\pi)} \end{equation}

Thật vậy, Tam giác $ABC$ và tam giác $DEF$ (là hai tam giác bằng nhau) giúp ta chia mặt cầu thành các phần dưới đây:

Gọi $S_{2}, S_3, S_4$ lần lượt là diện tích các phần $(2), (3), (4)$.
Dễ thấy: các phần $(2), (3), (4)$ phủ kín mặt cầu và tam giác $ABC$ được đếm lặp $6$ lần. Tức là thừa $4$ lần. Do đó:
$$\begin{align*} & S = S_2+S_3+S_4-4S_{ABC} \\ \iff & 4\pi R^2 = 4A.R^2+4B.R^2+4C.R^2 – 4S_{ABC} \\ \iff & S_{ABC} = (A+B+C-\pi)R^2 \quad \text{(đpcm)}\end{align*}$$

4) Bây giờ cần tìm các góc $A, B, P$ của tam giác $PAB$.

Dễ thấy $P = |\lambda_A - \lambda_B| = 104^o = \frac{26\pi}{45}$

5) Để tính được các góc $A,B$, ta cần đi chứng minh Định lý cosin thứ nhất.
Định lý cosin thứ nhất.
Cho tam giác cầu $ABC$ nằm trên mặt cầu đơn vị (bán kính bằng 1). Đặt $a=\widehat{BOC}, b= \widehat{AOC}, c= \widehat{AOB}$. Khi đó:
\begin{equation} \label{eq:5} \boxed{\cos A = \dfrac{\cos a - \cos b \cos c}{\sin b \sin c}} \end{equation}

Chứng minh:
Chọn hệ tọa độ $Oxyz$ sao cho $A \in Oz, B \in (xOz)$.
Khi đó:

$$A(0;0;1),  \quad B(\sin c; 0; \cos c), \quad C(\sin b \cos A; \sin b \sin A; \cos b)$$
Khi đó
$$\cos a = \overrightarrow{OB}.\overrightarrow{OC} = \sin c \sin b \cos A + \cos c \cos b$$
Do đó ta có đpcm.

6) Đối với tam giác $PAB$, ta có $b =90^o - \varphi_A =79^o, a= 90^o-\varphi_B = 41^o$.
Áp dụng công thức $\eqref{eq:1}$, ta thu được
$$p = \widehat{AOB} \approx 90^o40’32’’$$

Áp dụng định lý cosin thứ nhất cho tam giác $PAB$ ta có:
$$\cos A = \dfrac{\cos a - \cos b \cos p}{\sin b \sin p} \approx 0,771180674$$
Suy ra $A \approx 0,690 102 644 3 \quad (rad)$
$$\cos B = \dfrac{\cos b - \cos a \cos p}{\sin a \sin p} \approx 0,3044256591$$
Suy ra $B \approx 1,261 460 915 \quad (rad)$


Áp dụng định lý định lý Girard ta có:
$$S_{PAB} = (P+A+B- \pi)R^2$$


Do đó
$$S_{ABCD}=S_{CPD} - S_{PAB} = P.R^2 - (P+A+B- \pi)R^2 = (\pi – A – B )R^2  \approx 48 \ 287 \ 691,56 \ km^2$$

(Quái lạ, sao nó có vẻ không đúng lắm so với Google Earth)

Lấy $R=6371$ thì sẽ được $S \approx 48 \ 302 \ 853. 72 \ km^2$
(kết quả này gần với thực tế hơn.

Pha chế nước giải khát (Đề thi dự bị môn toán 2015)

Thứ Hai, 13 tháng 7, 2015 0 comments

Bài toán:


Trong một cuộc thi pha chế mỗi đội chơi được dùng tối đa 24g hương liệu, 9 lít nước và 210g đường để pha chế nước cam và nước táo. Để pha chế 1 lít nước cam cần 30g đường, 1 lít nước và 1g hương liệu, pha chế 1 lít nước táo cần 20g đường, 1 lít nước và 4g hương liệu. Mỗi lít nước cam nhận được 60 điểm thưởng, Mỗi lít nước táo nhận được 80 điểm thưởng. Hỏi cần pha chế bao nhiêu lít nước trái cây mỗi loại để đạt được số điểm thưởng cao nhất.


Giải

Gọi $x,y$ lần lượt là số lít nước cam và số lít nước táo cần pha chế. Ta cần tìm gá trị lớn nhất của biểu thức 
$$P=60x+80y$$
Biết rằng:
$$(D): \begin{cases}x,y>0 \\ 0 < 30x+ 10y \leq 210 \\ 0 < x + y \leq 9 \\0 < x + 4y \leq 24 \end{cases}$$
Đây là bài toán quy hoạch tuyến tính (học ở lớp 10)

Vẽ miền đa giác $(D)$.
Cần xác định đường thẳng $\Delta: 60x + 80y - P$, (đường thẳng này song song với đường thẳng $(d): 60x+80y=0$), sao cho $(\Delta)$ đi qua 1 điểm thuộc $(D)$ và Giao của $(\Delta)$ với $Oy$ có tung độ lớn nhất.



Dễ thấy $(\Delta ): y= -\frac{3}{4}x+8$ đi qua điểm $(4;5) \in (D)$ là đường cần tìm.

Vậy cần pha chế 4 lít nước cam và 6 lít nước táo

Gấp một tờ giấy thành một phần cho trước

Thứ Tư, 3 tháng 6, 2015 0 comments

Bạn có thể gấp đôi được tờ giấy không? Dĩ nhiên là có rồi, việc đó quá dễ, bạn chỉ cần gấp sao cho hai mép song song của nó trùng vào nhau.

Nhưng bạn có thể gấp được $\frac{1}{3}$ tờ giấy không? $\frac{1}{4}$, $\frac{1}{5}$, $\frac{1}{7}$ thì sao?. Sau đây, tôi sẽ hướng dẫn các bạn gấp được tờ giấy thành một phần bất kì mà bạn muốn. Chính xác và nhanh chóng.

Gấp một phần ba

Bắt đầu, lấy một tờ giấy hình vuông, gấp để đánh dấu trung điểm của một cạnh. Gấp tiếp góc phía dưới bên trái trùng vào trung điểm vừa rồi.
 

Điều đầu tiên cần chú ý là một mối quan hệ thú vị giữa ba hình tam giác mà bạn đã tạo ra, một ở góc trên bên trái, một ở góc trên bên phải, và một ở phía dưới bên trái nhô ra phía bên của tờ giấy.

Các cặp góc $1$ & $2$, $3$ & $4$, $5$ & $6$ có tổng bằng $90^o$. Ngoài ra, góc $1$ và góc $3$ cùng phụ với góc $2$ nên chúng bằng nhau. Hai góc $4$ và $5$ đối đỉnh nên chúng bằng nhau. Do đó, cùng bằng góc $2$ (vì cùng phụ với góc $3$. Suy ra góc $6$ bằng góc $3$.

Do đó, ba tam giác này đồng dạng. Chúng ta sẽ sử dụng các tam giác đồng dạng và định lý Pythagore để gấp các phần của tờ giấy.


Đặt chiều dài cạnh của hình vuông ban đầu là 1, Tam giác góc trên bên trái có một cạnh góc vuông là $\frac{1}{2}$, cạnh góc vuông còn lại chưa biết, ta tạm gọi là $x$. Cạnh huyền của tam giác đó, chính là phần còn lại của cạnh hình vuông.  Do đó nó có độ dài là $1-x$. Áp dụng định lý Pythagore, ta có
$$x^2+ \left( \frac{1}{2} \right)^2 = (1-x)^2$$
Giải phương trình đó, ta có $x=\frac{3}{8}$

Bây giờ, gọi độ dài cạnh góc vuông chưa biết của tam giác góc trên bên phải là $y$. Vì hai tam giác đang xét đồng dạng nên ta có:
$$\frac{y}{\frac{1}{2 }}=\frac{\frac{1}{2}}{x}$$
Thay $x=\frac{3}{8}$, ta có $y=\frac{2}{3}$. Do đó ta có thể tạo ra $\frac{1}{3}$ bằng cách gấp đôi đoạn $y$.



Gấp được phần bất kì của tờ giấy
Kazuo Haga, một giáo sư sinh vật học người Nhật Bản đã đưa ra phương pháp khéo léo này. Mặc dù là một nhà sinh vật học, ông rất quan tâm đến việc sử dụng origami để khám phá toán học. Trong thực tế, Haga nhận ra rằng phương pháp này rất hữu ích.

 

Giả sử thay vì gập góc dưới bên trái của tờ giấy tới trung điểm cạnh trên, bạn hãy gập góc dưới cùng bên trái đến một điểm khoảng cách $ k $ dọc theo cạnh trên.

Khi đó, tam giác góc trên bên trái có các cạnh là $k,x$ và $1-x$. Khi đó, giống như ở trên, áp dụng định lý Pythagore, ta có:
$$x^2+k^2=(1-x)^2$$
Giải phương trình, ta thu được $x=\frac{1-k^2}{2}$. Lại sử dụng tam giác đồng dạng, ta có:
$$\frac{y}{1-k}=\frac{k}{x}$$
Thay giá trị của $x$, ta có:
$$y=\frac{2(1-k)k}{1-k^2} $$
Hay
$$\frac{y}{2}=\frac{k}{1+k}$$
Điều này còn được gọi là Định lý Haga. Nó giúp ta có thể gấp được một phần bất kì của tờ giấy.

Ta vừa từ $k=\frac{1}{3}$ để gấp được $\frac{1}{3}$. Nếu ta gấp góc trái bên dưới lên điểm $\frac{1}{3}$ của cạnh trên, theo định lý Haga, ta sẽ thu được:
$$\frac{y}{2}=\frac{1}{3} \div \frac{4}{3} = \frac{1}{4}$$
Xa hơn nữa, bắt đầu với $\frac{1}{2}$, sử dụng phương pháp của Haga, ta gấp được $\frac{1}{3}, \frac{1}{4}$, thậm chí là một phân số bất kì, nếu ta bắt đầu với $k = \frac{1}{N}$, ta có:
 $$\frac{y}{2}=\frac{1/N}{1+1/N}=\frac{1}{N+1}$$
Dưới đây là một vài phần của tờ giấy được gấp bởi phương pháp đó.

 Theo plus.math.org

Hàm số bị lãng quên: haversin

Thứ Tư, 24 tháng 9, 2014 0 comments

Ta đã biết sin, cô-sin, tang và cô-tang là các hàm lượng giác quen thuộc với chúng ta. Nhưng có lẽ bạn chưa biết đến một hàm lượng giác khá quan trọng. Nó được gọi là haversin và được định nghĩa qua hàm sin như sau:
$$\text{haversin}(x ) = \sin^2 \left( \frac{x}{2} \right)$$
Thuật ngữ haversin có lẽ được xuất phát từ cụm từ "half versed sine". Để thấy hàm số này có ứng dụng gì, bạn hãy đặt mình vào vị trí người du khách dũng cảm trên một chuyến đi biển từ Liverpool đến New York. Điều đầu tiên bạn muốn biết là quãng đường đó dài bao nhiêu? Bỏ qua các đảo, bãi san hô, dòng biển và các yếu tố bất lợi khác, ta có thể nói rằng bạn sẽ chu du trên con đường ngắn nhất nối hai thành phố đó. Ta đã biết, con đường ngắn nhất nối hai điểm bất kì là đoạn thẳng. Nhưng sự thật đó không giúp gì cho bạn trong hoàn cảnh này. Đường thẳng nối Liverpool với New York sẽ đâm xuyên bề mặt Trái Đất. Chắc là bạn không định đào đường hầm đấy chứ?
 
Cái bạn cần là 1 đường ngắn nhất nối hai điểm trên bề mặt Trái Đất (Ta có thể coi Trái Đất là một hình cầu). Trên hình cầu, đường ngắn nhất nối hai điểm là dọc theo cung tròn trên Đường tròn lớn đi qua 2 điểm đó. Đường tròn lớn là giao tuyến của mặt cầu và mặt phẳng đi qua tâm mặt cầu. Hai điểm bất kì trên đường tròn lớn chia đường tròn này làm hai cung. Khoảng cách ta cần xét là cung nhỏ.

Bây giờ làm thế nào để tính được khoảng cách giữa hai điểm $P$ và $Q$ trên đường tròn lớn của Trái Đất? Giả sử các điểm $P,Q$ có vĩ độ lần lượt là $\phi _ P, \phi _ Q,$ và kinh độ lần lượt là $\lambda _ P$ and $\lambda _ Q.$

Gọi $R$ là bán kính Trái Đất, ta có $R \approx 6371 km$. Khoảng cách giữa hai điểm $P,Q$ trên đường tròn lớn được tìm từ công thức:
\begin{equation} \label{eq:1} \sin ^2{\left(\frac{d}{2R}\right)} = \sin ^2{\left(\frac{\phi _2-\phi _1}{2}\right)} + \cos {\phi _1}\cos {\phi _2} \sin ^2{\left(\frac{\lambda _2-\lambda _1}{2}\right)}\end{equation}
(Các góc được dùng đơn vị radian)

Giải phương trình tìm $d$, ta có:
\begin{equation} \label{eq:2} d = 2R \sin ^{-1}{\left(\sqrt {\sin ^2{\left(\frac{\phi _2-\phi _1}{2}\right)} + \cos {\phi _1}\cos {\phi _2} \sin ^2{\left(\frac{\lambda _2-\lambda _1}{2}\right)}}\right)}\end{equation} 

Bạn sẽ thấy ngay rằng đây là 1 công thức phức tạp. Nếu bạn là một thủy thủ từ hàng trăm năm trước, bạn chỉ được trang bị bảng giá trị sin và cos thì sử dụng công thức trên là cả một vấn đề. Có một căn bậc hai và một hàm lượng giác ngược.
Nếu ta thay biểu thức $\sin ^2(\theta /2)$ bằng hàm haversin thì công thức $\eqref{eq:1}$ trở thành
$$\text{haversin} \left(\frac{d}{R}\right) = \text{haversin}\left(\phi _2-\phi _1\right) + \cos {\phi _1}\cos {\phi _2} \text{haversin}\left(\lambda _2-\lambda _1\right).$$
Khoảng cách $d$ sẽ thành:
$$d = R \text{haversin} ^{-1}\left(\text{haversin}\left(\phi _2-\phi _1\right) + \cos {\phi _1}\cos {\phi _2} \text{haversin}\left(\lambda _2-\lambda _1\right)\right)$$

Việc tìm khoảng cách giữa hai điểm trên đường tròn lớn rất quan trọng trong hàng hải. Vỉ thế, ngày xưa, người ta còn cho in các bảng giá trị hàm haversin cũng như hàm haversin ngược. Nó giúp cho các thủy thủ thuận tiện hơn. Ngày nay, dù bài toán trên vẫn rất quan trọng với cả hàng không và hàng hải nhưng nhờ có máy tính điện tử, người ta chỉ cần dùng công thức $\eqref{eq:2}$. Đó là lý do vì sao bạn không còn nhìn thấy nút haversin trên chiếc máy tính bỏ túi của bạn nữa.

Quay trở lại bài toán, Liverpool có tọa độ là $(53.4^\circ ;-3^\circ )$, còn New York có tọa độ $(40.71^\circ ;-74^\circ )$. Các tọa độ có đơn vị là độ. Đổi chúng sang radian (bằng cách nhân với $\frac{\pi}{180}$), ta có: $\phi _ L = 0.932$ và $\lambda _ L=-0.052$ là tọa độ Liverpool, còn $\phi _{NY} = 0.71$ và $\lambda _{NY}=-1.291$ cho New York (làm tròn đến 3 chữ số thập phân). Áp dụng công thức $\eqref{eq:2}$, ta có kết quả $5313$ km.
Hiện nay, báo chí Việt Nam cũng đang bàn luận về đường bay vàng nối Hà Nội với Thành phố Hồ Chí Minh. Bạn hãy thử tính xem đường bay vàng đó dài bao nhiêu. Biết Hà Nội ở tọa độ $(27.175015;78.042155)$, còn TP Hồ Chí Minh có tọa độ $(10.595294;106.411536)$



Tạo hình nón từ hình tròn

Thứ Ba, 15 tháng 4, 2014 1 comments

Bài toán:
Cho một miếng inox hình tròn có đường kính $D$. Cần phải cắt miếng inox đó như thế nào để có thể tạo ra một hình nón có đường kính đáy là $d$, chiều cao là $h$.
 photo h1_zpsf437a771.png
Giải
Giả sử đoạn ta cần căt bỏ là phần được tô màu vàng trên hình vẽ.
 photo h2_zps0b1bd426.png

Đường sinh của hình nón cần làm là:
$$l = \sqrt{h^2+\left(\frac{d}{2}\right)^2}$$
Đường sinh đó chính là bán kính của hình quạt $A$ và độ dài cung tròn của $A$ cũng bằng chu vi đáy hình nón. Do đó:
$$l(2\pi - \alpha) = d\pi \Leftrightarrow \alpha = \frac{\pi(2l-d)}{l}$$

Công thức trên, $\alpha$ được đo bằng radian. Do đó, công thức theo đơn vị độ là:
$$\alpha = \frac{2l - d}{l} \times 180^o $$

Toán học đẹp như nghệ thuật

Thứ Bảy, 22 tháng 3, 2014 0 comments

Các bộ phim như Goodwill Hunting và A Beautiful Mind Săn bắn đã giúp chúng ta đánh giá cao vẻ đẹp của toán học tương tự như nghệ thuật. Nghiên cứu mới của University College London cho thấy rằng điều đó không chỉ là do sự trực quan của điện ảnh, mà còn vì não của chúng ta thực sự có hưng phấn với phương trình đẹp cũng như với bức tranh kiệt tác hay những bản nhạc kinh điển.

Nghiên cứu trên 15 nhà toán học với 60 công thức khác nhau bằng cách đo hoạt động não của họ với việc sử dụng chức năng chụp cộng hưởng từ (fMRI). Kết quả? Đây được đánh giá là phương trình đẹp nhất:
$$e^{i\pi}+1=0$$
Còn đây là phương trình xấu xí nhất
$$\frac{1}{\pi}=\frac{2\sqrt{2}}{9801}\sum_{k=0}^{\infty}\frac{(4k)!(1103+26390k)}{(k!)^4396^{4k}}$$
Điều thú vị là, không cần phải là nhà toán học, ta cũng chẳng khó khăn gì để nhận ra điều đó. Công thức đầu giải thích các yếu tố phức tạp trong một hình thức đơn giản. Còn công thức sau thì dài dòng và lộn xộn.

Kết quả fMRI cho thấy khu vực vỏ não trán ổ mắt ( Orbitofrontal Cortex) tăng hoạt động để đáp ứng với các phương trình dễ chịu. Điều này rất giống khi người ta nhìn thấy hoặc nghe một tác phẩm hấp dẫn của nghệ thuật của Mozart, Shakespeare hay Van Gogh. Vì vậy, có vẻ như là bộ não đánh giá cao tất cả các vẻ đẹp theo cùng một cách, không hề phụ thuộc gì vào hình thức của nó cả.

Vẻ đẹp của toán học: Nếu bạn vẫn không tin rằng phương trình cũng đẹp như các hình thức nghệ thuật, bạn có thể xem những bức ảnh tuyệt vời dưới đây. Bộ phim trình bày các sự kiện hàng ngày qua mô tả bằng toán học, bạn sẽ thấy một phương trình trên bên trái, một sơ đồ ở giữa, và phiên bản thực tế cuộc sống ở bên phải.

Mặc dù nghệ thuật thường được sáng tạo một cách tự do và thường không đại diện cho sự hoàn hảo của khoa học, nhưng những bức ảnh dưới đây cho mọi người thấy rằng "toán học không phải là khái niệm trừu tượng vô dụng như chúng ta thường ở trường," Pineill nói. "Đây là một ngôn ngữ phổ quát tuyệt vời, đó là nền tảng của mọi khoa học và do đó là công cụ để hiểu đầy đủ mọi điều xung quanh chúng ta."

Những họa tiết toán học sẽ làm bạn hưng phấn, hãy click vào hình để xem hình lớn hơn.
 1. Ánh sáng
2. Sự may rủi

 3. Tuyết
4. Quang học
5. Từ trường
6. Hóa học
7. Thời tiết
8. Hệ nhị phân
9. Sự sinh trưởng và phát triển
10. DNA trong dấu vân tay
11. Âm thanh
12. Kinh tế
13. Khí động học
14. Mạch điện

Dịch theo PolyciMic

Lô hay đề (phần 4)

Thứ Hai, 10 tháng 2, 2014 0 comments

Xem Phần 3

Bài toán 6
Với cách đánh như bài toán 5, ta sẽ lãi được bao nhiêu?

Giải
Giả sử ta chỉ đánh 1 con lô. Lưu ý: ở đây không nhất thiết là không đổi. Tức là hôm nay đánh 22, nếu không trúng, ngày mai đánh 32, miễn là mỗi ngày đánh 1 con lô. Giả sử như vậy để bớt đi ẩn.

Trước hết, ta tìm số lãi trung bình nếu đánh thắng trong 1 ngày.
$$l=\frac{\sum_{k=1}^{27}C_{27}^{k}(0,01)^k.(0,99)^{27-k}(80k-23)}{1-(0,99)^{27}}=\frac{21.6}{1-(0,99)^{27}}\approx 28,33371$$

Kí hiệu $T$ là biến cố “trúng ít nhất một nháy”, còn $H$ là biến cố “trượt cả dàn 27 con lô”. Ta có không gian mẫu đánh đến lúc trúng hoặc đến lần thứ $n$ như sau
$$\Omega =\{T, HT, HHT, ..., HH...HT, HH...HH \}$$
Kì vọng thu được như sau:

$$E(n)=\sum_{k = 1}^n  \left [ (0,99^{27})^{k - 1} (1 - 0,99^{27} ).l - 23( 0,99^{27} )^n \right ] .u_k$$
$$=\sum_{k = 1}^n  \left [ (0,99^{27})^{k - 1} .21,6 - 23( 0,99^{27} )^n \right ] .u_k$$
Trong đó $(u_n)$ là dãy số được nói đến ở bài toán 2.

Sử dụng Pascal,
uses crt;
const
 a = 23/57;

var
 i,j,k,n : longint;
 e, b: real;

function u (k: longint):longint;
var s, t: longint;
begin
 s:=0;
 t:=0;
 for i:= 1 to k do
 begin
  s:= 1+ trunc(a*t);
  t:= s+t;
 end;
 u:=s;
end;
BEGIN
 clrscr;
 readln(n);
 b:= exp(27*ln(0.99)); 
 e:=0;
 for j:= 1 to n do e:=e+(exp((j-1)*ln(b))*21.6-23*exp(n*ln(b)))*u(j);

  writeln(e:4:8);
 readln
END.
Ta tính được $E(34) \approx 1482,507$.
Như vậy, lãi trung bình theo cách đánh này là $1.482.507$ (một triệu bốn trăm tám mươi hai nghìn năm trăm lẻ bảy đồng).
 
Tiếp theo ta nói đến yếu tố thực tế.
Nếu ta đánh 33 ngày mà chưa trúng thì đến ngày thứ 34, ta đã đánh hết số tiền là:
$$23.000*\sum_{k=1}^{34}u_{k} = 3.865.242.000$$
Như vậy để đủ sức đánh tới ngày 34, bạn cần có 1 số vốn lớn. Và còn rất mạo hiểm vì riêng ngày thứ 34, bạn sẽ đánh:
$$23.000*u_{34} = 23.000*48.316 = 1.111.268.000$$

Khi bạn đánh tới $48.316$ điểm lô thì không ai dám đảm bảo với bạn rằng kết quả xổ số ngày hôm đó sẽ không có gian lận.

Lô hay đề (phần 3)

Chủ Nhật, 9 tháng 2, 2014 0 comments

Xem Phần 2

Bài toán 4:
Giả sử ta đánh LÔ trong $n$ ngày liên tiếp. Hãy ước lượng $n$ để xác suất ta trúng 1 lần đạt gần 100%.

Giải
Gọi $A$ là biến cố trong $n$ ngày, ta không trúng lần nào.
Gọi $B$ là biến cố ta chúng ít nhất 1 lần.
Xác suất để ta trượt cả $27$ con lô trong dàn lô của một ngày là: $0,99^{27}$. Do đó:
$$P(A) = 0,99^{27n}$$
Vậy:
$$P(B)=1-P(A) = 1-0,99^{27n}$$
$$P(B) > m \Leftrightarrow 0,99^{27n} < 1-m \Leftrightarrow n > \frac{log_{0,99}(1-m)}{27}$$
Với $m=0,9999$, ta có: $n > 33,9$, tức là trong vòng $34$ ngày thì xác suất ta đánh trúng ít nhất 1 lần là $99,99$%. 
Như vậy nhận định
Quote"không có con lô nào mà quá 50 ngày không ra"
là hoàn toàn xác đáng

Bài toán 4'
Giả sử ta đánh ĐỀ trong $n$ ngày liên tiếp. Hãy ước lượng $n$ để xác suất ta trúng 1 lần đạt gần 100%.
Giải
Bằng cách tương tự như trên, ta có BĐT:
$$n > log_{0,99}(1-m)$$
Với $m=99,99$, ta có: $n > 916,4$, tức là trong vòng 915 ngày thì xác suất ta đánh trúng ít nhất 1 lần là $99,99$%
Như vậy nhận xét:
Quotexác xuất để trúng một con đề trong 100 ngày là rất lớn (coi 100%),
là sai

Bài toán 5
Hãy nêu thuật toán để đánh lô sao cho có lợi nhất
Giải
Sau đây ta sẽ đánh nuôi một con lô cho đến khi nó về.
Gọi $u_i$ là số điểm lô ta đánh ở ngày thứ $i$, $u_1=1$. Khi đó, số tiền ít nhất mà ta nhận được khi ta trúng (1 nháy) ở ngày thứ $n$ là:
$$T=80u_n-23\sum_{i=1}^{n}u_i$$
Rõ ràng là ta cần $T>0$. Ta có:
$$T>0\Leftrightarrow 80u_n-23u_n-23\sum_{i=1}^{n-1}u_i>0\Leftrightarrow u_n > \frac{23}{57}\sum_{i=1}^{n-1}u_i$$
Như vậy, ta cần xác định dãy số $(u_n)$ nguyên dương thỏa mãn:
$$\left\{\begin{matrix}u_1=1\\u_n>\frac{23}{57}\sum_{i=1}^{n-1}u_i, \forall n \geq 1 \end{matrix}\right.$$

Đơn giản nhất, ta có thể chọn:
$$u_n = \left [\frac{23}{57}\sum_{i=1}^{n-1}u_i  \right ]+1, \forall n \geq 1 $$
Tức là ta có số điểm lô sẽ đánh từng ngày là:
$$1,1,1,2,3,4,5,7,10,14,20,28,39,55,...$$

Xem phần 4

Lập lịch thi đấu 10 đội vòng tròn

Thứ Năm, 6 tháng 2, 2014

Bài toán:
Hãy lập lịch thi đấu cho giải bóng đá có 10 đội tham gia theo thể thức vòng tròn một lượt

Giải
Cách 1 - Dùng hình học
Đặt mỗi đội tương ứng với 1 đỉnh của hình 9 cạnh đều và tâm của nó. 
Mỗi lượt thi đấu, ta dựng các đoạn thẳng song song nối các cặp đỉnh với nhau và đoạn thẳng nối tâm với đỉnh bị lẻ.

Ta có lịch thi đấu như sau (mỗi dòng là 1 vòng đấu)
$$\begin{matrix}(1,2) &(3,9) &(4,8) &(5,7) &(6,10) \\ (1,3)& (4,9) &(5,8) &(6,7) & (2,10)\\ (1,4) &(2,3) &(5,9) & (6,8) &(7,10) \\ (1,5)& (2,4) &(6,,9) &(7,8) &(3,10) \\ (1,6) &(2,5) &(3,4) &(7,9) &(8,10) \\ (1,7) &(2,6) &(3,5) & (8,9) & (4,10)\\ (1,8) & (2,7) & (3,6) & (4,5) &(9,10) \\ (1,9) & (2,8) &(3,7) &(4,6) &(5,10) \\ (1,10) &(2,9) &(3,8) &(4,7) &(5,6) \end{matrix}$$


Cách 2
Đặt tương ứng mỗi đội bóng với một phần tử của $A=\mathbb{Z}_9 \cup \{ a \}$
Xét các ánh xạ $f_i : A \to A, (i = 0,1,..,8)$ được xác định như sau:
$$f_i(x) = \left\{\begin{matrix}a & \text{khi } (x + x) \equiv i ( \mod 9) \\ y &\text{khi } (x + y) \equiv i ( \mod 9) \end{matrix}\right., \forall x \in \mathbb{Z}_9$$
Quy ước: 
$$f_i(a)=x \Leftrightarrow f(x)=a, \forall i$$
Dễ thấy $9$ ánh xạ $f_i$ kể trên thỏa mãn đồng thời các tính chất:
1) Là song ánh;
2) $f_i(x) = y \Leftrightarrow f_(y)=x, \forall x,y \in A;\forall i = 0,1,..,8$
3) $f_i(x) \neq f_j(x), \forall i \neq j$

Do đó, mỗi ánh xạ cho ta lịch thi đấu của một vòng đấu. Chẳng hạn, với $f_0$
$$f_0(1) = 8; f_0(2)=7;f_0(3) = 6; f_0(4)=5$$
$$f_0(5) = 4; f_0(6)=3;f_0(7) = 2; f_0(8)=1;f_0(9)=10$$
Ta có các cặp đấu:
$$(1,8), (2,7), (3,6), (4,5) ,(9,10) $$
Dễ thấy là đáp án của cách 1 và cách 2 giống nhau.

Cách 3
Ta sẽ lập lịch thi đấu cho giải đấu 3 đội, từ đó phát triển thành giải đấu 10 đội.
Lịch thi đấu của giải đấu 3 đội như sau (Đội đứng một mình là đội nghỉ lượt đấu đó)
$$\begin{matrix}(1,2) &(3,) \\(2,3) &(1,) \\(3,1) & (2,)\end{matrix}$$

Từ lịch thi đấu cho 3 đội, ta xây dựng lịch thi đấu cho 6 đội như sau. Chia 6 đội thành 2 nhóm (1,2,3) và (4,5,6). Trong 3 lượt đầu, hai nhóm thi đấu theo lịch như trên, hai đội lẻ thì gặp nhau. Trong 2 lượt sau, đội đứng thứ $i$ của nhóm 1 gặp đội đứng thứ $i+1$ của nhóm 2. Quy ước: đội thứ tư là đội thứ nhất. Ta có lịch thi đấu:
$$\begin{matrix}(1,2) &(3,6) &(4,5) \\(2,3) &(1,4) &(5,6) \\(3,1) & (2,5) & (6,4) \\ (1,5) & (2,6) & (3,4) \\ (1,6) & (2,4) & (3,5)\end{matrix}$$

Từ lịch thi đấu cho 6 đội, ta dễ dàng lập được lịch thi đấu cho 5 đội bằng cách bỏ đi đội 6.
$$\begin{matrix}(1,2) &(4,5) &(3,6) \\(2,3) &(1,4) &(5,) \\(3,1) & (2,5) & (4,) \\ (1,5) & (3,4)& (2,) \\ (2,4) & (3,5) & (1,) \end{matrix}$$

Từ lịch thi đấu cho 5 đội, bằng cách làm tương tự như trên, ta có lịch thi đấu của 10 đội:
$$\begin{matrix}(1,2) &(4,5) &(3,8) & (9,10) & (6,7) \\(1,4) &(2,3) &(5,10) & (7,8) & (6,9) \\ (1,3) &(2,5) &(4,9) & (7,10) & (6,8) \\ (1,5) &(3,4) &(2,7) & (8,9) & (6,10) \\ (2,4) &(3,5) &(1,6) & (8,10) & (7,9) \\ (1,7) &(2,8) &(3,9) & (4,10) & (5,6) \\ (1,8) &(2,9) &(3,10) & (4,6) & (5,7) \\ (1,9) &(2,10) &(3,6) & (4,7) & (5,8) \\ (1,10) &(2,6) &(3,7) & (4,8) & (5,9) \\ \end{matrix}$$

 
Copyright © 2012 Hoàng Ngọc Thế. All rights reserved. Ghi rõ nguồn Hoàng Ngọc Thế khi phát hành lại thông tin trên trang này.